Đồng hồ ra đời như thế nào?

Do sự tình cờ, người thời cổ xưa đã nhận xét rằng bóng của một thân cây bị cụt ngọn biến đổi khi mặt trời di chuyển trên bầu trời

Đồng hồ mặt trời

Tương tự, khi cắm một cây gậy thẳng đứng trên mặt đất, bóng cây gậy cũng di chuyển và chiều dài của bóng này thay đổi trong ngày. Khi bóng của cây gậy ngắn, người thời cổ xưa biết rằng đây là lúc gần trưa còn khi bóng dài, họ biết rằng ngày bắt đầu hay sắp hết. Bằng cách dùng các hòn đá, người thời cổ xưa đã đánh dấu vị trí của bóng mát này. Như vậy dụng cụ sơ sài dùng để đo thời gian đã thành hình hơn 4,000 năm về trước và người ta gọi nó là “đồng hồ mặt trời” (sundial). Nhà thiên văn miền Chaldée tên là Berossus đã mô tả đồng hồ mặt trời vào thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch.

clip_image001

Đồng hồ mặt trời có nhiều loại, nhiều hình dạng. Thứ đơn giản nhất là một cây gậy cắm thẳng đứng với tên gọi là “cột chỉ giờ “ (gnomon). Loại cột này có thứ nhỏ, có thứ lớn như chiếc Kim Cléopatre (Cleopatra’s Needle) hiện nay còn dựng tại công viên , thành phố New York.

Cột chỉ giờ đã mang lại nhiều khuyết điểm: trong suốt một năm và ở cùng một giờ trong ngày, bóng của cột thay đổi cả về chiều dài lẫn về phương hướng. Mặc dù người ta đã thay đổi cây gậy bằng những “đồng hồ bóng mát” (obélisque) chôn chặt dưới đất, tất cả khuyết điểm trên vẫn còn tồn tại.

Để sửa bớt các điều bất lợi, người thời xưa nghĩ ra các “nhật quỹ” (cadran solaire). Nhật quỹ là một thứ đồng hồ mặt trời, gồm có một miếng gỗ vuông nằm ngang và một miếng gỗ cắt chéo đóng thẳng góc với mặt nằm ngang. Miếng gỗ chéo có cạnh chéo song song với trục của quả đất, nghĩa là hướng về ngôi sao Bắc Đẩu. Nhờ điều sau này các bóng mát không thay đổi về phương hướng nữa và người thời cổ có được các độ chia nhất định. Cách dùng các nhật quỹ rất đơn giản: khi đặt nhật quỹ ở ngoài nắng, nếu bóng của nhật quỹ sát với cạnh số 9 thì lúc bấy giờ là 9 giờ. Nhật quỹ không phải là dụng cụ đo giờ chính xác và chỉ xử dụng được vào ngày có nắng. Nhật quỹ cần được chế tạo thích hợp với từng địa phương. Có kẻ đã ăn trộm một chiếc nhật quỹ tại Ai Cập và mang về đặt tại Hy Lạp. Tại nơi này, nhật quỹ đó đã chỉ sai giờ khiến cho kẻ ăn trộm phải thắc mắc.

Nhật quỹ được dùng từ thời xa xưa. Loại nhật quỹ cổ nhất còn sót lại tại Ai Cập được làm từ thế kỷ 15 trước Tây Lịch. Người Ai Cập cũng như người Hy Lạp rất ưa thích loại đồng hồ mặt trời này. Tới thế kỷ 19, các tay thợ sửa đồng hồ còn dùng các nhật quỹ thích hợp để lấy giờ. Người La Mã trái lại đã không chú trọng đến thứ dụng cụ đo thời gian này vì mãi tới năm 491 mà họ còn dùng một cột chỉ giờ cắm trước Hội Trường để giới hạn các bài diễn văn của các nhà hùng biện.

Đồng hồ nuớc

Khi dùng nhật quỹ, người ta gặp phải nhiều điều bất tiện chẳng hạn như nhật quỹ không thể cho biết thời giờ vào những ngày mưa hay vào ban đêm. Vì vậy người Ai Cập lại nghĩ ra các đồng hồ nước (clepsydres) căn cứ vào mực nước trong một chiếc bình trong suốt.

clip_image002
Đồng hồ nuớc(Sưu tầm)

Đồng hồ nuớc cổ

Thứ đồng hồ nước đơn giản nhất gồm một bình hình trụ có chia độ nối với một ống nhỏ. Một bình chứa nước có chỗ thoát bớt, giữ cho nước chảy vào ống nhỏ với một lưu lượng nhất định. Sau khi bình hình trụ đã đầy, nước tự động chảy ra ngoài qua một ống hình chữ U nhờ nguyên tắc bình thông đáy. Người ta căn cứ vào mực nước dâng lên trong bình hình trụ để biết thời gian. Thí dụ mực nước lên tới vạch thứ 7 thì vào lúc đó, đồng hồ nước chỉ 7 giờ.

Các đồng hồ nước được cải tiến dần dần: một chiếc phao nổi trên mặt nước mang thanh gỗ có gắn một kim chỉ thị và kim này di chuyển trước một bảng có ghi thời giờ. Về sau trục của phao nổi lại được mắc vào một bánh xe răng cưa làm chuyển động kim chỉ thị trước một mặt có chia độ.

Đồng hồ nước tuy được phát minh sau đồng hồ mặt trời nhưng lại được dùng đồng thời với loại đồng hồ mặt trời. Trên bức tường trong ngôi nhà mồ tại một nghĩa địa của tỉnh Thèbes, Ai Cập, người ta còn tìm thấy chiếc đồng hồ nước của tu sĩ kiêm nhà thiên văn tên là Amenenhet, chết vào khoảng năm 1550 trước Tây Lịch. Nhờ đồng hồ nước, Amenenhet đã nhận xét rằng đêm đông dài 14 giờ, trong khi vào mùa hè, đêm chỉ dài 12 giờ và trong suốt một năm, đêm đã thay đổi nếu kể từ lúc mặt trời lặn tới khi mặt trời mọc. Như vậy đồng hồ mặt trời cho biết giờ giấc còn đồng hồ nước được dùng để đo các khoảng thời gian đã trôi qua.

Vào khoảng năm 250 trước Tây Lịch, Ctésibius người Hy Lạp đã nghĩ ra được một thứ đồng hồ nước rất tài tình vì có bút ghi rõ thời gian. Ở chiếc đồng hồ này, nước chảy vào trong bình hình trụ theo một hình thức thi vị hơn: những giọt nước mắt từ đầu chiếc tượng đã rơi dần dần vào trong bình. Khi nước dâng lên, chiếc phao nổi đưa lên cao một hình người có cầm ở tay một chiếc kim chỉ thị và đầu kim này là cây bút chuyển động trước một khối trụ thẳng đứng. Sau 24 giờ, nước chảy ra, rơi xuống một bánh xe đạp nước (roue à aubes) và bánh xe này làm khối trụ thẳng đứng quay đi một chút.

Về sau người ta cải tiến loại đồng hồ nước bằng cách thêm vào bộ phận răng cưa và đồng hồ nước đã trở nên một thứ máy móc tuy đắt tiền nhưng vẫn được các người sống trên miền bờ biển Địa Trung Hải đòi hỏi. Vào thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch, Pompée đã bắt các Tòa Án phải dùng đồng hồ nước để tránh các luật gia nói “lảm nhảm”. Do các nhà hùng biện cần nhiều thời gian để bênh vực một lý lẽ, nên không tránh sao khỏi có sự gian dối trong vấn đề thời giờ. Người ta đã khám phá ra các vụ hối lộ nhân viên giữ đồng hồ để kéo dài thời gian và mang tiếng hơn cả, có luật gia đã đổ cả thứ nước bùn vào đồng hồ khiến cho đồng hồ chạy chậm hơn là đối với thứ nước trong.

Một khuyết điểm khác của loại đồng hồ nước là về mùa lạnh, nước đông đặc. Jules César đã gặp trở ngại này khi dẫn binh lính sang đất Anh. Trong thời gian đồn trú tại nơi này, César đã nhận thấy đêm mùa hè của xứ Anh ngắn hơn tại La Mã và vì kiến thức về thiên văn của viên Tổng Tài này không được uyên thâm nên ông ta không biết rằng đó là do sự khác biệt về vĩ độ.

Có thể bạn muốn xem:   Bức ảnh Motion Blur được chụp như thế nào?

Vào các thời đại trước, sự chuyển động của đồng hồ nước còn phức tạp nên vào năm 490 khi Vua Théodoric tặng Vua Gondebault xứ Burgondes chiếc đồng hồ, nhà Vua đã phải gửi theo cả người biết điều khiển đồng hồ. Chiếc đồng hồ danh tiếng nhất thời trước là của ông Hoàng Ả Rập Haroum-al-Raschid gửi tặng Hoàng Đế Charlemagne vào năm 809. Chiếc đồng hồ này bằng đồng thau, có 24 quả tròn cũng bằng đồng rơi dần vào trong môt chậu để chỉ giờ.

Còn một loại đồng hồ nước khác chạy rất yên lặng nên được nhiều người dùng và vì vậy, rất được thịnh hành vào thế kỷ 17, thời kỳ của các đồng hồ quả lắc. Loại này gồm một cái trống kim loại hình trụ dẹp, bên trong chia thành các căn vách a, b, c, d. . . và các căn này thông với nhau bằng các lỗ nhỏ. Trọng lực đã làm cho nước chảy từ căn nọ sang căn kia và làm quay dần chiếc trống kim loại. Trục của trống xuống dần và di động trước một bảng chỉ thời giờ. Người ta chỉ cần nhìn xem trục ngang đó nằm ở con số nào để biết mấy giờ.

 

Đồng hồ cát và nến chỉ giờ

Ngoài hai loại đồng hồ mặt trời và đồng hồ nước, còn có đồng hổ cát (sablier) dùng trong các khoảng thời gian ngắn. Nguồn gốc từ xứ Ai Cập, loại đồng hồ này cũng liên quan với đồng hồ nước nhưng xuất hiện về sau. Ngày nay đồng hồ cát còn được dùng để biết thời gian nói chuyện tại máy điện thoại hay dùng đến khi ngâm trứng gà trong nước sôi.

Đồng hồ cát gồm một bình nhỏ, bụng thắt thật hẹp, cát ở phần trên nên chảy dần xuống phần dưới đến khi hết, lúc này người ta đổi đầu đồng hồ. Thời gian cát chảy từ phần trên xuống phần dưới đều bằng nhau. Đồng hồ cát có nhiều loại: có thứ một giờ, có thứ nửa giờ, lại có thứ dùng để đo lường các khoảng thời gian ngắn hơn, chừng 10 phút chẳng hạn và loại này được Hải Quân Anh dùng mãi cho tới năm 1839.

Ngoài ra loại nến chỉ giờ (chandelle horaire) rất được nhiều người dùng trong thời Trung Cổ. Loại nến chỉ giờ này căn cứ vào nguyên tắc thời gian trôi qua tỉ lệ với số nến cháy.

 

Lịch sử đồng hồ bỏ túi

Đồng hồ bỏ túi đã có từ thế kỷ 16. Các model cổ xưa thiết kế theo kiểu hình vuông, và hơi lớn hơn so với phiên bản hiện nay.Trong những ngày đầu khi xuất hiên nhưng đồng hồ quả quýt, chỉ những người giàu có thật sự mới có thể sở hữu một chiếc, nó đã là một biểu tượng thực sự của sự giàu có và quyền hạn. Trong thời kỳ đó, những bộ máy cơ đã được giới thiệu để mang lại độ chính xác về thời gian, và một số trong những models đầu tiên thậm chí đã có chức năng báo thức.
Trong thế kỷ 17, những nhà sản xuất đồng hồ đã trở thành nghệ sĩ ngay lập tức với nhiều kiểu thiết kế khác nhau rất độc đáo và khéo léo trên từng chiếc họ thực hiện. Trong khoảng thời gian này, chúng ta bắt đầu thấy các vỏ đồng hồ, và sau đó là các mặt số thực sự có đóng dấu của các hiệu đồng hồ, một truyền thống đó vẫn còn thực hiện cho đến ngày nay. Những models đồng hồ bỏ túi xưa cổ trước đây hầu như không có đóng hiệu trên vỏ và mặt số.

Đến thế kỷ 18 sử dụng các viên kim cương trên đồng hồ bỏ túi đã bắt đầu được nhìn thấy, và việc sử dụng dầu làm mịn các bộ phận máy và kim lần đầu tiên được giới thiệu. Trong nửa cuối của thế kỷ 18, việc sử dụng của kim thứ ba (kim dây) đã trở thành tiêu chuẩn của công nghiệp đồng hồ, làm cho việc đo thời gian chính xác đáng kể hơn.

Những ngày vinh quang của đồng hồ bỏ túi đến trong thế kỷ 19. Những nhà sản xuất như Ulysse Nardin, Minerva, Heuer, IWC, và nhiều thương hiệu khác đã được thành lập vững chắc trong thời kỳ này. Chất lượng và kỹ thuật lắp được thêm tiến bộ hơn rất nhiều trong thời kỳ này, và họ đã bắt đầu được sản xuất trên một quy mô công nghiệp. Sự ra đời núm lên dây được giới thiệu trong khoảng thời gian này; trước đây phải dùng chìa khóa để vặn lên dây.

Đến đầu thế kỷ 20 mọi sự đã thay đổi cho các nhà sản xuất chế tạo đồng hồ. Giấy chứng nhận được cấp cho những người đã tạo ra những thiết kế đẹp nhất và độ chính xác cao nhất của đồng hồ bỏ túi. Thật không may, chúng tôi bắt đầu thấy sự phổ biến của đồng hồ bỏ túi nhanh chóng mờ dần khi đồng hồ đeo tay đã ra đời và trở nên ngày càng phổ biến. Mặc dù đồng hồ bỏ túi không được sử dụng nhiều ngày hôm nay, nhưng các đồng hồ bỏ túi cổ xưa của những năm trong quá khứ đã đóng một vai trò rất quan trọng trong nhiều thế kỷ.

Ngày nay có nhiều hiệu và thiết kế khác nhau có sẵn trên thị trường với một số làm giống như các đồng hồ bỏ túi cổ trước đây. Đối với những
người muốn một chiếc nào đó độc đáo và đặc biệt để làm quà tặng, với tất cả các thiết kế và màu sắc khác nhau và đa dạng như hiện nay, bạn chắc chắn sẽ tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm.

dongho

Các mức giá hiện nay chênh lệch đáng kể từ vài đô la tới gần như bất cứ giá mà bạn sẵn sàng trả. Nhiều chiếc nhìn khá đẹp,và đắt tiền
với viên kim cương giả hoặc với những viên đá nhân tạo, nhưng rất giá thành rất rẻ. Tuy nhiên, vẫn có nhiều models chế tác tinh xảo được tìm thấy.
Hầu hết những đồng hồ chính yếu đã tạo ra những chế tác mẫu vật rất xuất sắc.

Nếu không có tất cả các công việc khó khăn của những năm tháng trong thiết kế và xây dựng trong những đồng hồ bỏ túi cổ xưa của quá khứ, ngày hôm nay đồng hồ bỏ túi khá rẻ trong sự so sánh. Thời gian đã làm các quy trình sản xuất được cải tiến và tiến bộ rất nhiều .

Nếu bạn đang tìm kiếm một món quà độc đáo cho một người đặc biệt, hãy thử để ý đến các đồng hồ bỏ túi có sẵn trên thị trường hiện nay. Ngay cả khi họ không sử dụng nó như một đồng hồ để xem giờ, tôi tin rằng họ sẽ tìm thấy trong đồng hồ một kỷ niệm gì đó đặc biệt để yêu quý và trân trọng cho suốt cuộc đời.

Ymoi.vn (Sưu tầm)